Chào mừng bạn đến với website của chúng tôi, chúc quý khách một ngày may mắn và hạnh phúc
Trang chủ > Nghiên cứu-Trao đổi >
Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp , CODE
Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp

I. KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA NƯỚC SẠCH

1.1. Sự cần thiết của nước

Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế -xã hội của loài người. ở đâu có nước ở đó có sự sống. Trong cơ thể sống nước chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 70% khối lượng cơ thể con người trưởng thành. Người ta có thể nhịn ăn được nhiều ngày, nhưng không thể nhịn uống được 1 ngày. Ở các nước phát triển cao, mỗi người mỗi ngày cần 100 - 200 lít nước sạch, các nước chậm phát triển tối thiểu cũng là 40-50 lít nước sạch dùng cho sinh hoạt. Mức trung bình có thể đảm bảo cho nhu cầu vệ sinh, sinh hoạt của mỗi người, mỗi ngày cần khoảng 60 - 80 lít. Trong số này chỉ có 2,5-3 lít nước sạch dùng cho ăn uống. Nước sạch còn đưa vào cơ thể một số chất cần cho sự sống như iot (I), sắt (Fe), Fluo (F), kẽm (Zn), đồng (Cu), ... nhưng nước bẩn có thể đưa vào cơ thể nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Nước bẩn cũng chứa nhiều các chất độc hại như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), thạch tín (As), thuốc trừ sâu, các hoá chất gây ung thư khác. Do đó, nước dùng cho cuộc sống phải đủ về số lượng và an toàn về chất lượng.

1.2. Khái niệm về nước sạch

Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau:

       - Nước trong, không màu,

       - Không mùi vị lạ, không có tạp chất,

       - Không chứa chất tan có hại; và

       - Không có mầm gây bệnh.

Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã tiến hành nghiên cứu cơ cấu bệnh tật ở khu vực Châu Á và đi đến nhận xét như sau: Tại một số nước ở Châu Á có tới 60% bệnh nhiễm trùng và 40% dẫn tới tử vong là do dùng nước sinh hoạt không hợp vệ sinh. Quỹ nhi đồng Liên Hiệp quốc (UNICEF) lại cảnh báo rằng: hàng năm tại các nước đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết và 5 triệu trẻ em bị tàn tật do dùng nước bị ô nhiễm.

1.3. Nước là nguồn truyền bệnh rộng nhất, nhanh nhất và nguy hiểm nhất.

Sử dụng nguồn nước bị nhiễm bẩn có thể liên quan đến những nhóm bệnh cơ bản sau:

       + Hỏng men răng và chảy máu chân răng do Fluo quá cao.

       + Các bệnh đường tiêu hoá như: ỉa chảy, tả, kiết lỵ, thương hàn, ...

       + Các bệnh siêu vi trùng như bại liệt và viêm gan B.

       + Các bệnh ký sinh trùng, giun sán.

       + Các bệnh lây truyền do các côn trùng có liên quan tới nước như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não.

       + Các bệnh ngoài da như ghẻ lở, hắc lào, bệnh mắt hột, bệnh phụ khoa.

Trong thực tế các nguồn nước tự nhiên luôn chứa một lượng chất hoà tan và có mức độ ô nhiễm nhất định, nên các nguồn nước được xem là sạch khi nồng độ các chất có trong nước và số lượng vi khuẩn thấp hơn giới hạn cho phép thì mới đáp ứng được các tiêu chuẩn nước sạch.

1.2. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC Ở NÔNG THÔN

1.2.1.Nguồn nước:

Theo báo cáo điều tra vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn toàn quốc năm 2006 thì nguồn nước giếng khoan, giếng khơi chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu nguồn nước ăn uống sinh hoạt chính ở nông thôn Việt Nam (33,1% và 31,2%) . Các nguồn nước khác chiếm tỷ lệ thấp hơn, trong đó nước máy chỉ chiếm 11,7%, suối đầu nguồn là 7,5% và sông, ao hồ là 11% ( bảng 1).

Bảng 1. Cơ cấu nguồn nước ăn uống, nước sinh hoạt chính vùng nông thôn Việt Nam

 

                        Các nguồn nước

 

           Tỷ lệ ( % )

            Giếng khơi

            31,2

            Giếng khoan

            33,1

            Sông, ao hồ

            11,0

            Suối đầu nguồn

              7,5

            Nước mưa

              1,6  

            Nước máy

             11,7

            Nước khác

               3,7

                                                         Nguồn : Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, 2007

Do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, các nguồn nước mặt và nước ngầm trở nên khan hiếm, ở miền núi, vùng núi đá vôi castơ diện tích rừng bị thu hẹp, nguồn sinh thủy cạn kiệt, ở các vùng đồng bằng,nguồn nước mặt bị ô nhiễm do rác thải vứt bừa bãi dọc theo sông,chất thải chưa qua xử lý, do sản xuất nông nghiệp, các khu công nghiệp, các làng nghề, việc nước biển dâng cao đã gây ra hiện tượng nhiễm mặn và nhiễm phèn ở hầu hết các con sông ở Đồng bằng sông Cửu Long, nước ngầm thường chứa nhiều sắt (Fe2+), mùi tanh không thuận lợi cho sử dụng,một số nơi nhiễm thạch tín (As),đòi hỏi phải xử lý.

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do địa hình cao, người dân lại phụ thuộc vào nguồn nước từ sông suối, ao hồ nên vào mùa khô thường thiếu nước dùng. Thói quen sử dụng nước sông, suối, ao hồ vẫn chưa thể xoá bỏ được trong sinh hoạt của người dân vùng nông thôn.

1.2.2. Tình hình về chất lượng nước:

Các biện pháp xử lý nước được các hộ gia đình sử dụng nhiều nhất là lọc nước (20,8%), tiếp theo là để lắng ( 18,6%), đánh phèn ( 8,4%). Biện pháp sử dụng hoá chất và các biện pháp khác được sử dụng rất ít. Loại nguồn nước được người dân quan tâm xử lý nhiều nhất trước khi đưa vào sử dụng là nước sông, ao hồ (74,7%), nước mưa 60,4% và nước giếng khoan (50,1%).

Hầu hết giếng khơi không được xử lý trước khi đưa vào sử dụng, tuy nguồn nước này được coi là sạch nhưng vẫn có nguy cơ ô nhiễm vi sinh, đặc biệt đối với những giếng được xây dựng gần nguồn gây ô nhiễm như nhà tiêu, chuồng gia súc, hoặc không có thành chắn hoặc có vũng nước đọng quanh giếng.

Theo kết quả điều tra chất lượng nước sinh hoạt nông thôn năm 2006 thì chỉ có 15,6% hộ gia đình được tiếp cận với nguồn nước ăn uống sinh hoạt đạt tiêu chuẩn vệ sinh cả về vi sinh và hoá lý theo Quyết định 09/2005/QĐ-BYT. Kết quả điều tra cũng cho thấy,tỷ lệ nguồn nước nông thôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh chung cả hoá lý và vi sinh trên toàn quốc còn rất thấp ( bảng 2  )

Bảng 2. Tỷ lệ nguồn nước nông thôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh trên toàn quốc

 

                     Tiêu chuẩn đạt vệ sinh

 

     Tỷ lệ ( %)

         Hoá lý

         56,5

         Vi sinh

         29,0

 

         Chung cả hoá lý và vi sinh

 

         15,5

Rõ ràng, ngoài việc tăng cường cung cấp nguồn nước sạch về số lượng cần phải quan tâm hơn tới chất lượng của nguồn nước.

II. HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚCVÀ NHÀ TIÊU HVS Ở NÔNG THÔN

2.1. Hiện trạng cấp nước hợp vệ sinh

Nước sạch được xác định là “loại hàng hóa đặc biệt”, việc tăng tỷ lệ cấp nước và vệ sinh nông thôn là ưu tiên của Chính phủ Việt Nam. Chương trình mục tiêu quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn là một trong 7 Chương trình mục tiêu quốc gia thuộc giai đoạn 1(2001-2005), và là một trong 10 Chương trình mục tiêu quốc gia thuộc giai đoạn 2(2006-2010) mà chính phủ xây dựng để phục vụ những lĩnh vực được xem là cấp bách, có tính chất liên ngành và quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Phạm vi áp dụng của Chiến lược bao gồm tất cả các vùng nông thôn trong cả nước, nhằm:

a)     Tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn bằng cách giảm thiểu các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh nhờ cải thiện việc cấp nước sạch, nhà vệ sinh và nâng cao thực hành vệ sinh của dân chúng.

b)     Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua việc xây dựng và sử dụng các công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh (HVS), làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn.

       c) Giảm tình trạng ô nhiễm MT do phân người và phân gia súc chưa được xử lý, làm ô nhiễm môi trường (MT),cũng như giảm ô nhiễm các chất hữu cơ tới các nguồn nước.Sau 10 năm thực hiện Chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn,Việt Nam đã có những tiến bộ lớn,bộ mặt nông thôn đã thay đổi, tạo điều  kiện tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống của người dân nông thôn. So với năm 1998, thời kỳ 1999-2005 đã tăng thêm 23 triệu người dân sống ở nông thôn được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân của chỉ tiêu này là 4,3%/năm.Một mặt khác,chất lượng nước cũng như khối lượng nước phục vụ cho sinh hoạt ngày một tốt hơn và ở một số nơi đã đáp ứng tốt được nhu cầu,đời sống người dân.Có thể tóm tắt những hiệu quả to lớn đó như sau:

            +Chuyển biến của chính quyền,của Đảng về nhận thức trách nhiệm và tầm quan trọng của NS&VSNT được nâng cao rất nhiều;

            + Nhận thức và ý thức người dân về nước sạch và vệ sinh môi trường đã được nâng lên rõ rệt. Điều này thể hiện ở việc triển khai thực hiện các dự án cấp nước, người dân nhiệt tình tham gia và đóng góp tài chính.

            + Tình hình ô nhiễm môi trường nông thôn đã được giảm thiểu, mức sống nhân đân được cải thiện rõ rệt, số hộ nghèo giảm dần.

       + Thúc đẩy bình đẳng giới bằng việc cải thiện điều kiện tiếp cận nguồn nước sạch đã giúp giảm bớt gánh nặng đi lấy nước cho phụ nữ. Điều kiện vệ sinh an toàn cũng có nghĩa là phụ nữ và trẻ em ít bị lây nhiễm bệnh và bệnh tật giảm nhiều.Hiện trạng cấp nước HVS nông thôn từ 2005-2010 được thể hiện ở bảng 3

Bảng 3. Hiện trạng cấp nước HVS nông thôn từ 2005-2010

   Vùng KT- ST

       2005

       2010

Số dân được cấp nước HVS

    (người)

Tỷ lệ

(%)

Số dân được cấp nước HVS

  ( người)

Tỷ lệ

(%)

 

Toàn quốc

 

39.912.732

 

   62

 

52.122.468

 

    83

Miền núi phía Bắc

5.559.506

   56

  7.469.696

    78

Đồng bằng sông Hồng

9.742.835

   66

12.054.903

    85

Bắc Trung Bộ

5.707.670

   61

  7.299.170

    83

Duyên hải miền Trung

3.923.530

   57

  5.171.268

    81

Tây Nguyên

1.593.730

   52

  2.931.662

    74

Đông Nam Bộ

3.259.129

   68

  5.161.992

    89

Đồng bằng SCL

10.126.332

   66

12.033.777

    84

                                                                              Nguồn: Bộ NN&PTNT 2011

Trong 7 vùng KT-ST,vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh (HVS) đạt 89% cao hơn trung bình cả nước 6%,thấp nhất là vùng miền núi phía Bắc 78% và Tây nguyên mới đạt 74%,thấp hơn trung bình cả nước 9%.

Giữa các tỉnh cũng có sự chênh lệch,có 10/63 tỉnh đã đạt tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt rất cao (trên 90%) như: Hà Nội (93%);Hải Phòng (92%);Bắc Ninh (92%); Đồng Nai (90%); Bà Rịa-Vũng Tàu (98%);Tp.HCM (97%);Tiền Giang (96%); Trà Vinh ( 90%);Sóc Trăng (90%); Kiên Giang (90%);20/63 tỉnh đã đạt tỷ lệ ở mức cao (từ 83-90%); 20/63 tỉnh đạt tỷ lệ trung bình ( 75-83%);13/63 tỉnh đạt tỷ lệ bao phủ thấp ( dưới 75%). Tuy nhiên,tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/2009/BYT gồm 22 chỉ tiêu mới đạt 42%.

2.2. Hiện trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Tính chung, 75% hộ gia đình ở các vùng nông thôn Việt Nam hiện có nhà tiêu, bao gồm tất cả các loại, cả loại hợp vệ sinh (Nhà tiêu 2 ngăn ủ phân tại chỗ; Nhà tiêu tự hoại; Nhà tiêu chìm có ống thông hơi và Nhà tiêu thấm dội) và loại không hợp vệ sinh như một ngăn, cầu, thùng, đào, cầu tiêu ao cá. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu cao nhất ở vùng ĐBSH (96,7%), thấp nhất ở vùng ĐBSCL ( 49,6%) và Tây Nguyên (55,4%).

Kết quả điều tra cũng cho thấy có 33% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam hiện có nhà tiêu thuộc loại hợp vệ sinh mà chưa xét những nhà tiêu này có đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, sử dụng, bảo quản theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT hay không. Nhà tiêu tự hoại chiếm tỷ lệ cao nhất ( 12,4%), tiếp đến là nhà tiêu thấm dội nước ( 11,2%), nhà tiêu 2 ngăn ( 8,7%), thấp nhất là nhà tiêu chìm có ống thông hơi và hầm Biôga ( 0,3% và 0,7%). Còn 42% số hộ gia đình hiện có nhà tiêu thuộc loại không hợp vệ sinh và 25% gia đình không có nhà tiêu (bảng  4).

 

Bảng 4. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu HVS và nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản

Loại nhà tiêu

Nhà tiêu hợp vệ sinh

         (%)

Nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng và bảo quản            (%)

Thấm dội nước

         11,2

7,9

Tự hoại

         12,4

7,7

Hai ngăn ủ phân tại chỗ

           8,7

2,0

Nhà tiêu chìm có ống thông hơi và hầm biogas

           0,7

0,3

Tỷ lệ chung

 

18,0

                                                              Nguồn : Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, 2007

Số liệu của bảng 4 cho thấy,tính chung có 18% số hộ gia dình ở các vùng nông thôn Việt Nam có nhà tiêu hợp vệ sinh đảm bảo các yêu cầu về xây dựng cũng như bảo quản sử dụng. Trong số nhà tiêu HVS đảm bảo các yêu cầu về xây dựng và bảo quản sử dụng, nhà tiêu tự hoại và thấm dội nước chiếm tỷ lệ cao nhất ( 7,7% và 7,9%), thấp hơn là nhà tiêu 2 ngăn ( 2,0%), nhà tiêu chìm có ống thông hơi hoặc hầm Biôga ( 0,3%).

Số chuồng trại chăn nuôi được cải tạo và xây dựng mới đáp ứng việc xử lý chất thải đã tăng lên.Đến năm 2010 khoảng 2.700.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi HVS,chiếm 45% trên tổng số 6.000.000 hộ chăn nuôi;khoảng 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung hầu hết chất thải đã được thu gom và xử lý.Số chuồng trại đã có công trình Biogas là 1.000.000 chuồng trại,chiếm gần 17%.

Việc thu gom và xử lý rác cũng bắt đầu được quan tâm,khoảng 3.310 xã và thị trấn có tổ thu gom rác thải,đạt 32% trên tổng số 10.345 xã và thị trấn trên cả nước.Một số làng nghề đã được quy hoạch,chất thải cũng đã được thu gom và xử lý.Tính đến năm 2007,lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở các vùng nông thôn trong cả nước là 9.939.000 tấn/năm,trong đó chất thải rắn sinh hoạt từ khu dân cư là 7.585.000 tấn/năm,chiếm 76%;chất thải rắn từ khu vực kinh doanh-dịch vụ là 2.354.000 tấn/năm,chiếm 24%.Ước tính mỗi người dân vùng nông thôn mỗi ngày trung bình phát thải 0,34 kg rác thải ra môi trường.

 

III. CÁC GIẢI PHÁP

 

3.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và các cấp chính quyền:

Nơi nào Đảng bộ,chính quyền và các tổ chức quần chúng hoạt động tốt, nơi nào được các cấp uỷ và chính quyền địa phương quan tâm, hậu thuẫn, nơi đó sẽ đạt được nhiều kết quả trong cấp nước sạch và vệ sinh môi trường

3.2.Tăng cường công tác thông tin,giáo dục-truyền thông:Phối hợp các cấp, các ngành đẩy mạnh thông tin, giáo dục truyền thông về mục đích, ý nghĩa của nước sạch, VSMT với sức khoẻ cộng đồng, vận động mọi tầng lớp cùng tham gia hành động. Sử dụng các phương tiện thông tin hiện có, chú trọng tới việc xây dựng các hình thức truyền thông và tài liệu truyền thông có hiệu quả trên đài phát thanh, truyền hình, báo chí Trung ương và địa phương, đặc biệt cần có những biện pháp xây dựng các chương trình truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhằm các mục đích:

         + Làm gia tăng nhu cầu của người dân về NS&VSMT và để người dân nhận thức được tầm quan trọng của NS&VSMT đối với sức khỏe

         + Thúc đẩy và trợ giúp người dân quản lý và huy động đóng góp của cộng đồng( các nguồn lực)trong việc thực hiện chiến lược NS&VSNT

         + Thúc đẩy người dân thực hành vệ sinh hàng ngày và tạo thói quen sử dụng nước sạch,nhà tiêu HVS

         +Phát huy nội lực,tinh thần tự nguyện đóng góp tài chính để xây dựng,quản lý và vận hành công trình cấp nước sạch,nhà tiêu HVS ;

         + Hỗ trợ phát triển thị trường cung cấp nước hàng hóa và dịch vụ cấp nước.

3.3. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực:Nhìn chung,các cán bộ làm công tác về NS&VSMT ở địa phương phần lớn là những cán bộ kiêm nghiệm,kỹ năng chuyên môn và quản lý của nhiều cán bộ còn hạn chế do chưa được đào tạo,chế độ đãi ngộ không tương xứng với công việc được giao nên không tận tâm với nhiệm vụ về CN&VSMT và không thu hút được cán bộ có năng lực. Do đó, cần thiết phải có cán bộ chuyên trách và được đào tạo nâng cao năng lực tại tất cả các cấp,ưu tiên đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở các cấp huyện, xã,khuyến khích các tổ chức quốc tế, tư nhân đầu tư phát triển nguồn nhân lực

3.4. Lựa chọn các công nghệ và dịch vụ thích hợp:

- Đối với cấp nước: Mục đích của hoạt động này là cung cấp nước sạch đến toàn bộ các hộ gia đình nông thôn.Phương pháp tốt nhất thường là sử dụng công trình cấp nước tập trung cho thôn,xã hay huyện.Hệ thống này có thể đơn giản là hệ thống cấp nước tự chảy hoặc hệ thống cấp nước sử dụng bơm động lực tùy thuộc vào địa hình và nguồn nước.Các hệ thống cấp nước tập trung bằng đường ống có sử dụng bơm động lực là loại hình công nghệ tiên tiến được khuyến khích sử dụng rộng rãi trong thời gian tới.Tuy nhiên,trong một số trường hợp ,khi xem xét đến yếu tố chi phí và kỹ thuật,có thể sử dụng các công nghệ cấp nước thay thế như:

       + Giếng khoan,giếng khơi có hoặc không có công trình xử lý,sử dụng bơm tay;

       + Giếng làng cải tiến sử dụng bơm điện phục vụ cho một nhóm hộ gia đình;

       + Bể hoặc lu chứa nước mưa cho từng hộ gia đình.Cần đặc biệt chú ý lựa chọn công nghệ cấp nước phù hợp với từng vùng có nhiều khó khăn như vùng núi cao, vùng núi đá vôi,vùng duyên hải và hải đảo bị nhiễm mặn

- Đối với nhà tiêu HVS: Chiến lược Quốc gia hỗ trợ các cộng đồng chuyển đổi từ việc đại tiểu tiện lộ thiên sang đại tiểu tiện ở những nơi cố định và nhanh chóng đạt được mục tiêu sử dụng nhà tiêu HVS. Một nhà tiêu HVS phải thỏa mãn được những yêu cầu sau:

 - Cô lập được phân người,ngăn không cho phân người chưa được xử lý tiếp xúc với người,động vật và côn trùng;

  - Tiêu diệt được mầm bệnh có trong phân và không làm ô nhiễm môi trường xung quanh.Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 08/2005 về 4 loại nhà tiêu HVS: (i) nhà tiêu 2 ngăn ủ phân tại chỗ;(ii) nhà tiêu chìm có ống thông hơi;(iii) nhà tiêu thấm dội nước và (iv) nhà tiêu  tự hoại dùng cho hộ gia đình. Đối với vùng ngập lũ đồng bằng SCL,Bộ Y tế đã tiến hành nghiên cứu và áp dụng thí điểm  3 loại nhà tiêu,gồm nhà tiêu nổi bằng composite có 3 ngăn;nhà tiêu nổi composite có bộ phận nhựa lọc và nhà tiêu vượt lũ bằng xi măng cốt thép.Trong tương lai cần nghiên cứu và thiết kế nhiều các kiểu nhà tiêu phù hợp với vùng miền và điều kiện cụ thể ở các địa phương.

3.5. Xã hội hóa công tác CN&VSMT: Do khả năng xây dựng cũng như cung cấp các dịch vụ và hàng hóa vệ sinh môi trường và nước sạch của Chính phủ chỉ có giới hạn nên cần tập trung vào việc tăng cường sự tham gia của mọi thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư trong đầu tư vốn,thi công xây lắp,sản xuất thiết bị phụ tùng,các dịch vụ sửa chữa và quản lý vận hành.Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg, ngày 2 tháng 11 năm 2009 về “một số chính sách ưu đãi,khuyến khích đầu tư và quản lý,khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn”. Quyết định  này được nhiều cơ quan và doanh nghiệp tư nhân trông đợi và là văn bản mang tính đột phá cho phương thức xã hội hóa, tạo điều kiện cho các thành phần phi nhà nước tham gia tích cực hơn.Văn bản này hiện các tỉnh đã biết, nhưng lộ trình thực hiện thì hoàn toàn chưa có và chưa cụ thể hóa các hạng mục ưu tiên cho các doanh nghiệp tư nhân,nên chưa tạo được sự hấp dẫn trong đầu tư.

3.6.Tăng cường hợp tác quốc tế: Ngay từ khi xây dựng Chiến lược Quốc gia cấp nước và vệ sinh nông thôn năm 2000,nhiều tổ chức quốc tế đã quan tâm và giúp đỡ như:Quỹ nhi đồng LHQ (UNICEF); Ngân hàng thế giới (WB);Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch (DANIDA);Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và gần đây là cơ quan phát triển quốc tế của Vương quốc Anh (DFID);Tổ chức HTQT của Nhật Bản ( JICA)…Hiện nay, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình,một số nhà tài trợ truyền thống đã ngừng tài trợ và như vậy các khoản viện trợ và vay ưu đãi cho lĩnh vực CN&VSMT nông thôn cũng sẽ giảm dần.Trong bối cảnh này thì HTQT trong lĩnh vực CN&VSMT có thể sẽ thay đổi về hình thức  và tập trung vào các mặt:

       - Trao đổi kinh nghiệm

       - Đào tạo phát triển nguồn nhân lực

       - Chuyển giao công nghệ tiên tiến và thích hợp

       - Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực CN&VSMT.

IV. TÌNH HÌNH Ô NHIỄM THẠCH TÍN (ARSENIC) Ở TỈNH HÀ NAM VÀ CÁC TỈNH KHÁC

4.1. Ảnh hưởng của  thạch tín đối với sức khoẻ con người và sinh vật

Điều nguy hiểm là thạch tín (As)  không gây mùi khó chịu khi có mặt trong nước, ngay cả khi ở hàm lượng có thể gây chết người, nên không thể phát hiện. Bởi vậy, các nhà khoa học còn gọi arsenic là “sát thủ vô hình”. Hiện nay, khoảng 13,5% dân số Việt Nam (10 - 15 triệu người) đang sử dụng nước ăn từ nước giếng khoan, rất dễ bị nhiễm thạch tín. Thạch tín ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất ở thực vật, làm giảm năng suất cây trồng. Trong tất cả các bệnh dịch tễ, nhiễm độc thạch tín dịch tễ được phát hiện và biết đến muộn nhất trên thế giới. Đây là một dạng nhiễm độc dịch tễ mãn tính do nước uống có chứa hàm lượng thạch tín cao. Ô nhiễm thạch tín ảnh hưởng tới hệ điều hành đa chức năng của con người như tim mạch, hệ thần kinh. Bệnh do nhiễm độc thạch tín thường gặp như bệnh hắc tố và mất sắc tố da, sừng hoá da, ung thư da, bệnh đen và rụng móng chân, bệnh Bowen…

Thạch tín là chất rất độc hại, có thể gây 19 loại bệnh khác nhau, trong đó có các bệnh nan y như ung thư da, phổi. Sự nhiễm độc thạch tín được gọi là arsenicosis. Đó là một tai họa môi trường đối với sức khỏe con người. Những biểu hiện của bệnh nhiễm độc thạch tín là chứng sạm da (melanosis), dày biểu bì (kerarosis), từ đó dẫn đến hoại thư hay ung thư da, viêm răng, khớp... Hiện tại trên thế giới chưa có phương pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc thạch tín.

4. 2. Ô nhiễm As trong nước ngầm ở Việt Nam

Các kết quả khảo sát  cho thấy, hiện tượng ô nhiễm asenic trong nước ngầm ở Việt Nam phổ biến trên diện rộng. Đối với các tỉnh miền Bắc, ô nhiễm trầm trọng nhất là các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Hà Tây ( cũ).74% dân số Việt Nam sống tập trung ở vùng nông thôn mà phần lớn nguồn nước cho ăn uống sinh hoạt được khai thác từ các giếng khoan nhỏ lẻ. Như vậy tỷ lệ người dân có nguy cơ mắc bệnh do nhiễm độc thạch tín ở nước ta rất cao.Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường thuộc Bộ Y tế đã khảo sát, phân tích 450 mẫu đất trong các lớp trầm tích bở rời, 2.200 mẫu nước ở 2.200 điểm, trong đó có nguồn nước từ giếng đào, giếng khoan, nguồn nước mặt, nguồn nước thải, nguồn nước mặt tại một số hồ, ao... cho thấy trên phạm vi 11 tỉnh có số liệu điều tra, 7 tỉnh đã phát hiện ô nhiễm As với mức độ khác nhau, trong đó, Hà Nội và Hà nam có tỷ lệ ô nhiễm cao nhất (31%),một số tỉnh có nguồn nước ngầm bị ô nhiễm thạch tín vượt quá tiêu chuẩn cho phép trên 50 lần, có nơi trên 100 lần.

Các tỉnh phát hiện ô nhiễm tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc (6/7 tỉnh được nghiên cứu), trong đó phần lớn ở đồng bằng Bắc Bộ. Nguyễn Đình Ninh,2008 cũng đã lấy mẫu xét nghiệm thạch tín trong tóc và nước tiểu của 100 người thuộc 3 xã Hoà Hậu,Vĩnh Trụ và Bồ Đề thuộc hai huyện Lý Nhân và Bình Lục,tỉnh Hà Nam. Kết quả phát hiện 44 người có hàm lượng thạch tín trong tóc và 15 người có thạch tín trong tiết niệu cao hơn ngưỡng trung bình. Trong số đó nhiều trường hợp biểu hiện lâm sàng, tỷ lệ bị sừng hoá, bệnh ngoài da cao.

4.3. Biện pháp đơn giản loại bỏ As trong nước

Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, thạch tín tuy rất độc nhưng lại rất dễ dàng bị loại bỏ sau khi lọc, để kết tủa, xử lý làm giảm thiểu nồng độ bằng các biện pháp vật lý và hóa học. Ở nước ta, công nghệ được các nhóm đề xuất phổ biến là keo tụ và lọc. Nghiên cứu gần đây Trung tâm CNMT & PTBV (CETASD), Trường ĐHKHTN ,ĐHQG hàn nội và Viện Công nghệ Môi trường Liên bang Thụy Sĩ cho thấy đối với các hộ gia đình sử dụng giếng khoan đơn lẻ, nơi có hàm lượng sắt cao trong nước ngầm, mô hình làm thoáng nước ngầm bằng cách phun mưa trên bề mặt bể lọc cát (lọc chậm), phổ biến ở các hộ gia đình, cho phép loại bỏ tới 80% thạch tín trong nước ngầm cùng với việc loại bỏ sắt và mangan. Tuy vậy, hiệu quả của việc loại bỏ sẽ giảm nếu nguồn nước ngầm có nồng độ sắt không đủ lớn và hàm lượng phốt phát (tính theo P) lớn hơn 2 mg/l.

Một hướng nghiên cứu khác đó là ứng dụng các khoáng vật có sẵn ở Việt Nam mà chúng có khả năng loại bỏ thạch tín. Nhóm nghiên cứu của Trần Hồng Côn tại khoa Hoá- TĐHKHTN-ĐHQGHN đã biến tính Laterite( đá ong) trở thành một vật liệu có khả năng xử lý tốt thạch tín. Laterite hay đá ong  có màu đỏ, có phản ững axit, rất phổ biến ở Việt Nam.Thành phần chủ yếu của Laterite là các Hydroxyt Sắt và Nhôm, hoặc các oxyt ngậm nước của chúng, và một lượng nhỏ các hợp chất của Mangan, Titan. Ở điều kiện tự nhiên, loại laterit này có diện tích bề mặt lớn, mang điện dương, có khả năng hấp phụ các chất bẩn mang điện tích âm như  Asenicic. Có thể đưa laterite trực tiếp vào nước cần xử lý như chất hấp phụ, sau đó để lắng, hoặc có thể sử dụng làm vật liệu hấp phụ trong bể lọc. Tại ấn Độ, người ta đã nghiên cứu thực nghiệm để xử lý Asenicic với nồng độ cao trong nước ngầm bằng laterite theo tỷ lệ 5 g laterite/100 ml nước. Hiệu suất xử lý đạt 50 - 90 %. Hiệu suất có thể đạt cao hơn khi xử lý laterite trước bằng dung dịch HNO3.

                                                                                    GS.TS. Lê Văn Khoa

                                                                                     Viện Tư vấn Phát triển (CODE)

              (Báo cáo tại Hội nghị Ban tuyên giáo TƯ ,Vĩnh phúc,tháng 10 năm2011)

Bookmark and Share
Các Tin Khác:
Tin nổi bật
Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp
Hội thảo: Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng - EITI và khả năng tham gia của Việt Nam Hội thảo: Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng - EITI và khả năng tham gia của Việt Nam
THÔNG BÁO SỐ 1 THÔNG BÁO SỐ 1
Hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam” Hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam”
Thực hiện Sáng kiến EITI để tránh “lời nguyên tài nguyên” Thực hiện Sáng kiến EITI để tránh “lời nguyên tài nguyên”
Đối Tác
Thống kê
Khách online: 1
Tổng truy cập: 95179

Trang chủ Điều khoản Cam kết Liên hệ Lên đầu trang  

Viện Tư vấn phát triển - CODE
Địa chỉ: Tầng 5, nhà số 5, ngõ 535 Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 04 3771 1173
Fax: 04 3771 5691
Email: code@codeinter.org

www.codeinter.org