Chào mừng bạn đến với website của chúng tôi, chúc quý khách một ngày may mắn và hạnh phúc
Trang chủ > Nghiên cứu-Trao đổi >
Để phát triển kinh tế làng nghề bền vững Để phát triển kinh tế làng nghề bền vững , CODE
Để phát triển kinh tế làng nghề bền vững

1. Vai trò của các làng nghề trong phát triển kinh tế -xã hội của địa phương, vùng miền, cả nước

Làng nghề là một trong những nét đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành hàng hóa, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn. Làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của văn hóa xã hội và sản xuất, một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Làng nghề truyền thống còn được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao hàm trong nó cả những giá trị vật thể và phi vật thể. Hoạt động sản xuất của làng nghề không chỉ góp phần phát triển văn hóa, tinh thần và cải thiện đời sống vật chất của nông thôn mà còn mang nặng dấu ấn về tính sáng tạo, sự khéo léo và ý chí vươn lên trong cuộc sống của cha ông chúng ta từ nhiều đời nay.

Sự phát triển sản xuất làng nghề trong quá khứ, hiện tại và những năm gần đây đã và đang đóng góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân làng nghề. Mức thu nhập của người sản xuất nghề cao gấp 3-4 lần so với thu nhập của người sản xuất thuần nông. Do giải quyết việc làm cho nhiều lao động đã làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội của vùng nông thôn.

Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ đạt từ 60-80% và ngành nông nghiệp chỉ đat từ 20-40%, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia: kinh tế cá thể chiếm 72%, kinh tế tập thể 18%, doanh nghiệp tư nhân 10%; thu hút 11 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn. Tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng lao động trong độ tuổi của khu vực nông thôn năm 2005 là 80% (Bộ Tài nguyên và môi trường - TN&MT, 2008). Làng nghề do đó, hạn chế việc di dân tự do từ khu vực nông thôn vào khu vực thành thị trong thời kỳ nông nhàn, góp phần quan trong trong xóa đói giảm nghèo (XĐGN) ở nông thôn. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) 2004 cho biết, tỷ lệ hộ nghèo trung bình trong số hộ sản xuất thủ công nghiệp là 3,7 % thấp hơn nhiều mức trung bình cả nước là 10,4%. Một số làng nghề thể hiện tính nhân văn sâu sắc là sử dụng những lao động khuyết tật, khiếm thị.

2. Lịch sử phát triển làng nghề tại Việt Nam

Đa số các làng nghề đã trải qua phát triển hàng trăm năm. Ví dụ làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển; làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại; nghề Chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm.

Làng nghề truyền thống phân bố và có mật độ không đều giữa các vùng miền trên phạm vi toàn quốc và phản ánh những nét đặc thù của các dân tộc anh em. Ví dụ, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì nghề dệt thổ cẩm, đan lát, nghề gốm là những thế mạnh, mang nặng tính tự cung tự cấp, ở vùng đồng bằng hoạt động làng nghề rất đa dạng từ những hoạt động sản xuất các công cụ sản xuất nông nghiệp đến những hoạt động đòi hỏi kỹ năng tay nghề cao như chạm bạc, đúc đồng làm các vật dụng thờ cúng…

Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm từ 60-70% trong đó đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Tây cũ, Bắc Ninh; Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định…Ở miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung nhiều ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế Ở miền Nam chiếm khoảng 16,4% tập trung  tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ. Nhìn chung, các làng nghề ở khu vực miền Trung và miền Nam tương đối đơn điệu, tập trung chủ yếu vào làm thủ công mỹ nghệ, chế biến thủy hải sản, chế biến lương thực và thực phẩm.

Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công mà còn là điểm văn hóa, nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao, nơi tập trung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng. Ngày nay, làng nghề thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển, nhiều công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến, góp phần tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở nông thôn. Làng nghề mới được hiểu là các làng nghề không phải là làng nghề truyền thống, hình thành từ việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang phát triển nhanh với tốc độ tăng bình quân 8,8-9,8%/năm, hình thành các trung tâm giao lưu buôn bán, cụm dân cư với lối sống đô thị tại nông thôn. Nhiều hiệp hội, hội nghề nghiệp, CLB nghề nghiệp được thành lập như Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn…

3. Đặc điểm của sản xuất làng nghề

3.1. Đặc điểm về sản xuất

Bên cạnh những mặt tích cực sự phát triển hoạt động làng nghề cũng mang lại nhiều bất cập,  đặc biệt về vấn đề môi trường và xã hội. Đó là do:

- Quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở quy mô hộ gia đình, chiếm 72% tổng số cơ sở sản xuất. Rất khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp, xen kẽ với khu vực sinh hoạt dẫn tới chất lượng môi trường khu sinh hoạt ngày càng bị suy thoái;

- Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông dân đã ảnh hưởng mạnh tới sản xuất tại làng nghề, làm gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường; Thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt và hay chọn quy trình sản xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động trình độ thấp. Để hạ giá thành sản phẩm, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại, rất ít đầu tư phương tiện bảo hộ lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động;

- Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã với tính bảo thủ cao, không hoặc rất ít áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây lãng phí tài nguyên và phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường. Công nghệ sản xuất lạc hậu nên kéo dài thời gian sản xuất và phát sinh ô nhiễm, đặc biệt là tiếng ồn, bụi, nhiệt…Vốn đầu tư cho sản xuất hạn hẹp nên việc đầu tư xử lý ô nhiễm hầu như không có. Trình độ sản xuất thấp, nếp sống tiểu nông, tư duy sản xuất nhỏ nên thường trốn tránh những trách nhiệm xã hội. Các làng nghề truyền thống thường sử dụng lao động gia đình, sản xuất theo kiểu bí truyền, giữ bí mật cho dòng họ, ít áp dụng những tiến bộ khoa học-kỹ thuật, không khuyến khích sáng kiến mang hiệu quả bảo vệ môi trường (BVMT) của người lao động;

- Công nghệ sản xuất, thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu, chắp vá, tiêu hao nhiều năng lượng, phát thải nhiều chất ô nhiễm. Hoàn toàn chưa có làng nghề nào có áp dụng tự động hóa (Bộ TN&MT 2008);

- Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại làng nghề quá thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Sản xuất tự phát, không có quy hoạch lâu dài nên khó huy động tài chính và không thể chủ động đổi mới khoa học và công nghệ và càng không thể đầu tư cho xử lý môi trường.

- Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, học nghề, văn hóa thấp nên hạn chế đối với công tác bảo vệ môi trường.Theo Bộ NN&PTNT, số lao động chỉ tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở chiếm trên 60%, ý thức BVMT yếu. Hầu hết các làng nghề không có các hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường.

3.2. Ô Nhiễm môi trường làng nghề

Kết quả khảo sát 52 làng nghề của Cục BVMT năm 2006 cho thấy, 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng, 27% bị ô nhiễm vừa và 27% bị ô nhiễm nhẹ. Chất lượng môi trường tại hầu hết khu vực sản xuất trong các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn.

Ví dụ làng nghề tái chế giấy Dương Ổ và Phú Lâm (Bắc Ninh), là 2 làng nghề có quy mô sản xuất lớn. Tổng khối lượng nước thải lên tới 3.500 m3/ngày. Hàng ngày đã thải vào nguồn nước mặt khoảng 1.450 đến 3.000kg COD và 300 kg bột giấy. Khối lượng chất thải rắn (CTR) của 255 làng nghề của TP. Hà Nội sau mở rộng đã lên tới 207,3 m3/ngày, tương đương khoảng 90 tấn/ngày (Sở Công thương Hà Nội, 2008).

Làng nghề tái chế chì từ ắc qui (xã Chỉ Đạo, Hưng Yên), làng đúc cơ khí Tống Xá (Nam Định), làng Châu Khê (Bắc Ninh), làng nghề sản xuất sắt Đa Hội, Đại Bái (Bắc Ninh), làng An Thái và Ba Khu xã Yên Phong; làng cơ khí Vân Chàng (Nam Định); làng nghề giấy Dương Ổ, Phong Khê (Bắc Ninh), tái chế nhựa Trung Văn (Hà Nội), làng Khoai (Hưng Yên)…đã và đang thải ra môi trường nhiều yếu tố độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, phát sinh nhiều bệnh tật, chi phí y tế cao.

Ví dụ, tổng chi phí thiệt hại trung bình do bệnh tật và ốm đau ở làng Tống Xá (Nam Định) vào khoảng 1,3 tỷ đồng/1.000 dân/năm, cao hơn so với ở Yên Phong (Nam Định)-làng thuần nông môi trường không bị ô nhiễm khoảng 800 triệu đồng/1.000 dân/năm, bằng 60,64% so với Tống Xá. Ngoài ra trong các làng nghề luôn tiềm ẩn những xung đột môi trườngvì không phải hộ nào trong làng nghề cũng làm nghề.

4. Đánh giá hệ thống pháp luật hiện nay về công tác quy hoạch,phát triển kinh tế làng nghề trong đó có vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường làng nghề

4.1. Hiện trạng

Nhận thức được tầm quan trọng của làng nghề,thời gian qua Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách liên quan như:

- Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7 2006 của Chính phủ về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn, nhằm phát triển KT-XH ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu- Nghị định có quy định về mặt bằng sản xuất (Điều 7) và Điều 8 quy định “địa phương hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề và cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”.

Ngoài ra, tại Nghị định số 73/1995/NĐ-CP và sau đó là Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ NN&PTNT, Chính phủ đã giao Bộ NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý Nhà nước (QLNN) lĩnh vực ngành nghề nông thôn và trên cơ sở đó, Bộ NN&PTNT đã ban hành một số văn bản như thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP; Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/04/2007 về việc đẩy mạnh quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm MT làng nghề.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm 2006-2015 của Bộ NN&PTNT  là thực hiện Chương trình “Mỗi làng một nghề” với mục tiêu khôi phục và phát triển làng nghề nông thôn để tạo việc làm, tạo thu nhập từ phi nông nghiệp với các hoạt động như: hỗ trợ phát triển làng nghề nông thôn, khuyến khích các hộ gia đình, tư nhân, HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công đa dạng, đào tạo nghề và hỗ trợ chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, xây dựng cơ chế quản lý chất thải làng nghề.

- Thông tư số 113/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị Định số 66/2006/NĐ-CP quy định cụ thể về mức hỗ trợ, nguồn tài chính hỗ trợ. Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát triển các làng nghề. Từ năm 2002-2007 Nhà nước đầu tư 440 tỷ đồng cho 42 tỉnh bước đầu mang lại hiệu quả nhất định cho cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật làng nghề, tập trung các cơ sở sản xuất làng nghề thành các cụm/khu CN làng nghề để triển khai thực hiện xử lý các vấn đề môi trường.

- Ngày 16 tháng 04 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 491/QĐ-TTg  về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ,thuộc Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Trong số 19 tiêu chí thì tiêu chí số 17 liên quan đến các vấn đề về môi trường. Tuy không đề cập cụ thể đến làng nghề, nhưng đến các vùng nông thôn có liên quan đến làng nghề. Tiêu chí này được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu chính về:

      + Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia

+ Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường

+ Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường

xanh, sạch, đẹp

+ Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

+ Phân loại chất thải rắn (CTR) sinh hoạt tại nhà, tái chế và tái sử dụng.

Điều 38, Luật BVMT 2005 về  BVMT đối với làng nghề quy định rõ các quy hoạch, xây dựng, cải tạo và phát triển làng nghề phải gắn với BVMT; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo,tổ chức thống kê,đánh giá mức độ ô nhiễm của các làng nghề trên địa bàn và có kế hoạch giải quyết  tình trạng ô nhiễm MT của các làng nghề, đồng thời quy định cụ thể cho các cơ sản xuất trong các khu/cụm công nghiệp làng nghề phải thực hiện các yêu cầu về BVMT như xử lý nước thải; chất thải rắn phải được phân loại tại nguồn và đóng góp kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng về BVMT và nộp đầy đủ phí BVMT theo quy định của pháp luật. Tiếp đó là  Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Nhiều tỉnh và Thành phố cũng đã có những Quyết định,Nghị quyết,Quy chế liên quan đến BVMT làng nghề ở địa phương. 

4.2. Đánh giá

Nhiều văn bản về BVMT và PTBV làng nghề đã được ban hành và thực hiện. Tuy nhiên MT làng nghề vẫn ngày càng trở nên bức xúc,suy thoái.Đó là do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ,chưa cụ thể hóa cho BVMT làng nghề.

Các văn bản quy phạm pháp luật BVMT làng nghề còn thiếu và chưa cụ thể. Luật BVMT 2005 là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực MT,trong đó có Điều riêng ( Điều 38) về BVMT làng nghề và các điều khoản khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp.Tuy nhiên, để triển khai thực hiện Luật cần có các văn bản quy định cụ thể.Cho đến thời điểm hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn thực hiện các nội dung về BVMT làng nghề của Luật BVMT.Làng nghề  rất đa dạng về loại hình sản xuất,quy mô phát triển và có những đặc thù riêng không giống với các khu CN và cụm công nghiệp(CCN).Tuy nhiên cho đến nay hoàn toàn chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định riêng đối với BVMT làng nghề theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làng nghề.Các văn bản hướng dẫn hiện hành đều quy định chung cho tất cả các loại hình sản xuất kinh doanh,do đó để áp dụng được đối với làng nghề nhiều khi không phù hợp hoặc khó áp dụng.Ví dụ, Nghị định: 80/2006/NĐ-CP,ngày 9/8/ 2006 hướng dẫn thi hành Luật BVMT và Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của Chính phủ về sửa đổi,bổ sung  một số Điều của Nghị định 80 về việc mọi đối tượng sản xuất kinh doanh dịch vụ đều phải lập báo cáo ĐTM hoặc cam kết BVMT (đối với các dự án đầu tư cơ sở mới) hoặc phải lập đề án BVMT (đối với các cơ sở đang hoạt động).Những nội dung này rất khó áp dụng được với các đặc thù làng nghề và hiện không có một làng nghề nào thực hiện điều này.Do đó, cần nghiên cứu,ban hành một hình thức cam kết BVMT với các nội dung đơn giản,gọn nhẹ với những quy định riêng phù hợp.

Mặc dù một số nội dung về BVMT làng nghề cũng được đề cập đến trong Nghị Định 66/2006/NĐ-CP nhưng cũng chưa có các quy định cụ thể có tính pháp lý hóa về việc các làng nghề phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung,phải có các biện pháp giảm thiểu phát sinh chất thải.

- Về xử phạt: Nghị định 81/2006/ NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. Trên thực tế, không có một hộ sản xuất kinh doanh, dịch vụ nào trong làng nghề mà không gây ô nhiễm MT, tuy mức độ có khác nhau.Như vậy theo đúng quy định này thì 100% số hộ làng nghề đều thuộc đối tượng bị xử phạt,thậm chí phải đóng cửa ngừng sản xuất.Trên thực tế, các hộ làm nghề không nộp các khoản phí,lệ phí về BVMT và khai thác tài nguyên( trừ phí thu gom chất thải rắn). Một mặt, họ không đủ năng lực tài chính để nộp phạt vi phạm hành chính,hoặc chây ỳ trong thi hành quyết định xử lý vi phạm,mặt khác,trong tình hình hiện nay, do đặc thù của làng nghề với mối quan hệ xã hội phức tạp,tình làng nghĩa xóm, các cơ quan quản lý ở địa phương rất khó tiến hành các thủ tục xử phạt hoặc cưỡng chế ngừng sản xuất.

- Bộ TN&MT đã ban hành tới 32 quy chuẩn kỹ thuật về MT(QCVN) và áp dụng cho mọi đối tượng,trong đó có làng nghề. Trên thực tế các quy chuẩn này nếu áp dụng cho các làng nghề thì quá cao, quá khắt khe, không khả thi vì quy mô làng nghề nhỏ, hộ gia đình chưa có điều kiện về tài chính để lắp đặt hệ thống thiết bị xử lý MT đạt quy chuẩn hiện hành,dẫn tới nhiều khó khăn trong kiểm soát ô nhiễm làng nghề. Do đó, cần nghiên cứu các QCVN với “hệ số” nhất định mang tính lới rộng và riêng đối với làng nghề.

- Tổ chức thực hiện pháp luật về BVMT làng nghề còn yếu và chưa phát huy hiệu quả. Các địa phương còn chậm trong việc quán triệt và triển khai các chính sách,văn bản quy phạm pháp luật về BVMT tới chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã và đặc biệt là các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề. Ví dụ,UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành quy chế BVMT từ tháng 7/2000,nhưng tới năm 2002 nhiều xã,thôn trong tỉnh vẫn chưa được quán triệt và triển khai,ở nhiều tỉnh,thành phố khác cũng tương tự. Do đó, hiện nay hầu như không có một hộ sản xuất làng nghề nào có các hồ sơ, thủ tục về MT, không có các hạng mục công trình xử lý nước thải, khí thải đạt QCVN về MT.

- Chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan QLMT các cấp Trung ương,tỉnh,huyện,xã,thôn bản để phổ biến thông suốt các Luật,văn bản,chính sách của Nhà nước để thực thi nhiệm vụ QLMT làng nghề được thuận lợi.Ví dụ,vấn đề thu phí BVMT đối với nước thải,chất thải rắn hay việc xử phạt các làng nghề gây ô nhiễm MT.

- Về quản lý: Tuy đã có sự phân công trách nhiệm cho các Bộ nhưng vẫn còn chồng chéo và không rõ ràng về vai trò và trách nhiệm trong việc BVMT làng nghề giữa các Bộ/Ngành và giữa Bộ /Ngành với địa phương. Công tác quản lý Nhà nước về làng nghề phải thống nhất. Nhiều Bộ ,ngành ( Bộ NN&PTNT quản lý nông thôn và làng nghề,Bộ Công thương quản lý phần lớn các khu/cụm công nghiệp;Bộ TN&MT- kiểm soát soát chất lượng MT) cùng tham gia vào công tác quản lý các làng nghề nói chung và MT làng nghề nói riêng,nhưng thiếu một ngành được phân công làm “đầu mối” quản lý các hoạt động phát triển làng nghề từ quy hoạch phát triển đến quản lý việc phát triển và triển khai các nội dung về BVMT. Hiện nay,các Bộ ,kể cả Ban quản lý cụm công nghiệp đều có chức năng phê duyệt ĐTM và như vậy ĐTM sẽ bị coi nhẹ và tiến hành cho có hình thức.Vì chức năng quản lý không rõ ràng nên ở các địa phương,một số tỉnh giao cho Sở NN&PTNT,có tỉnh giao cho Sở TN&MT,có tỉnh lại giao cho Sở Công thương quản lý làng nghề

Ở địa phương,vai trò của các cấp chính quyền sở tại trong QLMT làng nghề rất mờ nhạt,mặc dù đây là trách nhiệm chủ yếu của họ.Các văn bản pháp luật phần lớn mới dừng lại ở cấp tỉnh.Rõ ràng,phải có những văn bản quy định cụ thể trách nhiệm cho UBND từng cấp,tốt nhất là quy định trách nhiệm đến cấp  xã,thôn bản.

-  Công tác kiểm tra,thanh tra việc thi hành pháp luật về BVMT tại các làng nghề chưa được thường xuyên và triệt để,xử phạt hành chính các hành vi gây ô nhiễm MT tại làng nghề còn chưa nghiêm.Hầu hết các chính quyền địa phương chưa chú ý dến công tác này mà chủ yếu dựa vào các đoàn thanh tra của Trung ương nên không nắm được tình hình thực tế,không đề ra được những biện pháp cụ thể,đặc thù đối với địa phương mình.

- Các công cụ kinh tế chưa được triển khai: Công cụ kinh tế theo nguyên tắc: “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” rất quan trọng có tác dụng làm thay đổi hành vi của các chủ cơ sở sản xuất làng nghề.Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải hầu như chưa triển khai được đối với làng nghề.Đó là do nước thải sản xuất,sinh hoạt,chăn nuôi trong một làng nghề đan xen nhau,rất khó tách bạch nước thải sản xuất để tính toán mức phí cần đóng. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 174/2007/NĐ-CP về phí BVMT đối với CTR,nhưng tình hình thực hiện ở các làng nghề cũng không có gì khác so với nước thải.

- Phổ biến thông tin,nâng cao nhận thức BVMT cho cộng đồng làng nghề đã được quan tâm và được đầu tư nhiều nhất so với các giải pháp khác.Tuy nhiên,các phương tiện truyền thông tuy đã có sẵn ở địa phương,nhưng công tác này chưa được chú ý thường xuyên,kịp thời.Vẫn còn nhiều chiến dịch,tuyên truyền,hoạt động theo phong trào mà chưa đi vào bề sâu thực chất.Công tác tuyên truyền thiếu sáng tạo về hình thức,chưa phong phú về nội dung, chưa gắn với những đặc thù của làng nghề,chưa phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể khác như trường học,tổ chức xã hội nghề nghiệp,tôn giáo…Chưa khuyến khích và hướng dẫn hình thành các Hương ước làng bản,hoặc quy chế xây dựng làng văn hóa…

5. Đánh giá công tác quy hoạch phát triển làng nghề/cụm làng nghề hiện nay

5.1. Hiện trạng

Nhìn chung,quy mô làng nghề thường nhỏ,chưa thực hiện được cơ chế thu hút lao động có tay nghề cao.Ngược lại ở những vùng sản xuất lớn,lao động trong các làng nghề làm việc hầu như quanh năm,với quy mô phát triển ngày càng lớn.Ví dụ,làng nghề làng đá Mỹ nghệ Non nước ( Tp.Đà Nẵng ) thu hút hơn 2.000 lao động,doanh thu năm 2007 ước đạt 60 tỷ đồng;Làng nghề chè Blao( Lâm Đồng) với 22.000 ha chè,chiếm 30% diện tích chè cả nước,thu hút hơn 120.000 lao động.

Giá trị sản xuất của các làng nghề tỉnh Hà Nam năm 2005 đạt 390,9 tỷ đồng,tốc độ đạt tăng trưởng bình quân đạt 12,55%/năm,đóng góp vào ngân sách gần 2,9 tỷ đồng.Những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh do chủ yếu được xuất khẩu như mây giang đan đạt 4 triệu USD/năm,thêu ren 2,5 triệu USD/năm.

Sự phát triển của làng nghề chịu tác động của các yếu tố chủ quan như nội lực sản xuất và các yếu tố khách quan như chính sách của Nhà nước,vấn đề thị trường.Do đó, có thể thấy,số lượng làng nghề ở các vùng nói chung có xu hướng tăng lên đến 2015,đặc biệt ở vùng ĐBSH,Trung Bộ và Nam Bộ.Tuy nhiên, làng nghề đang có sự “biến thái,pha tạp”  giữa làng nghề thực sự mang tính chất thủ công,truyền thống và sự phát triển công nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn,tạo nên một bức tranh hỗn độn của làng nghề Việt Nam trong những năm gần đây.

5.2. Đánh giá

Để hạn chế ô nhiễm MT,nhiều tỉnh,thành phố đã có chủ trương xây dựng cụm công nghiệp làng nghề hoặc khu sản xuất tập trung, bước đầu triển khai một số công cụ quản lý trong BVMT làng nghề như áp dụng công cụ kinh tế bằng các hình thức thuế,phí BVMT,quan trắc giám sát chất lượng các thành phần MT,công khai phổ biến thông tin về hiện trạng MT….Tuy nhiên,đến nay rất ít cụm làng nghề được thành lập.Đó là do huyện và xã làm chủ đầu tư nên thường gặp nhiều khó khăn trong quy hoạch,chiến lược phát triển, cơ sở hạ tầng mới chỉ dừng lại ở việc cấp điện,hệ thống đường giao thông nội bộ đơn giản,một số ít khu có hệ thống cấp thoát nước,tổ thu gom vận chuyển chất thải rắn(CTR) đến bãi rác của thôn,xã,hầu hết không có quy định BVMT,không có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Ở một số khu quy hoạch sản xuất tập trung, các hộ sản xuất không chỉ di chuyển bộ phận sản xuất mà cả gia đình.Ví dụ khu công nghiệp Đồng Kỵ (Bắc Ninh) đã xuất hiện cả một khu phố mới với những nhà cao tầng đồ sộ,trong đó có cả nơi ở,nơi sản xuất, nơi trưng bày giới thiệu sản phẩm. Khu/cụm công nghiệp giấy Phong Khê, cơ khí Đa Hội( Bắc Ninh) và các khu/cụm công nghiệp làng nghề khác ở Hà Nội, ĐBSH,ĐBSCL;Đông Nam Bộ… đã bộc lộ nhiều tồn tại trong phát triển và BVMT.Thực chất các khu mới này là một hình thức giãn dân,chiếm dụng đất đai và mở rộng thêm các làng nghề mới gây ô nhiễm MT. Công tác di dời không được thực hiện triệt để,dẫn tới biến tướng thành hình thức giãn dân và một hình thức mở rộng ô nhiễm. Đây là xu hướng đáng báo động,nếu không sẽ phải xử lý các khu vực ô nhiễm gấp đôi, thậm chí gấp 3 lần so với hiện tại. Như vậy,tuy đã có quy hoạch,nhưng các khu/cụm công nghiệp tập trung của làng nghề vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chưa có hệ thống quản lý MT chung và giống với khu giãn dân, là hình thức mở rộng ô nhiễm, việc triển khai các công cụ quản lý còn nhiều yếu kém,nhân lực và tài chính cho BVMT làng nghề còn thiếu,công tác xã hội hóa BVMT làng nghề chưa được triển khai cụ thể,chưa huy động được nguồn lực xã hội cho BVMT làng nghề.

Một mặt khác,Ban quản lý khu công nghiệp làng nghề chủ yếu cấp đất cho cơ sở sản xuất,còn các hộ làm nghề  phải tự chịu trách nhiệm di dời và xây dựng hạ tầng nhà xưởng,kể cả hệ thống cấp điện,nước.Nhiều cơ sở sản xuất nhỏ gặp khó khăn về tài chính và vì không có quy định cưỡng chế nên họ vẫn tiếp tục sản xuất ở cơ sở cũ mà không chịu vào khu tập trung.

Thực tế cho thấy,một số cụm công nghiệp làng nghề có đầu tư vào công trình xử lý chất thải,nhưng đều thất bại vì không có cơ chế ràng buộc nên các chủ cơ sở sản xuất không chịu đóng góp kinh phí để duy trì,mà thường trông đợi vào Nhà Nước.

Việc phối hợp liên ngành còn nhiều hạn chế.Hiện nay Chính phủ phân công cho 3 Bộ thực hiện quản lý Nhà nước,đó là Bộ NN&PTNT theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP ,có trách nhiệm xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn toàn quốc đến 2020,Bộ Công thương – Nghi định 189/2007/NĐ-CP,ngày 27/12/2007, quản lý các cụm/điểm công nghiệp ở cấp huyện và các doanh nghiệp công nghiệp ở địa phương.Về QLMT tổng thể lại do Bộ TN&MT- Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 quy định nhiệm vụ của  Tổng Cục MT về kiểm soát ô nhiễm, kiểm soát chất lượng MT tại các đô thị,nông thôn,miền núi,lưu vực sông, vùng ven biển,khu công nghiệp,khu chế xuất,khu công nghệ cao,khu kinh tế,cụm công nghiệp và làng nghề …theo quy định của pháp luật. được giao xây dựng và ban hành các chính sách liên quan đến BVMT của cả nước,trong đó có làng nghề,nhưng sự phối hợp giữa các cơ quan này chưa tốt.

Vì sự chồng chéo, phối hợp không tốt nên thiếu các hướng dẫn,định hướng và hỗ trợ cụ thể trong sản xuất,thương mại các làng nghề theo hướng PTBV,vừa phát triển sản xuất vừa BVMT.Ngoài ra, năng lực QLMT của cán bộ cấp cơ sở rất yếu,phụ trách nhiều công việc,chưa thường xuyên mở các lớp tập huấn để nâng cao nhận thức về MT,thiếu sự chia sẻ thông tin và phổ biến những kinh nghiệm,những kết quả nghiên cứu để rút kinh nghiệm và xử lý các tình huống MT nảy sinh. Nhân lực QLMT từ Trung ương đến cấp tỉnh,huyện,xã,thôn bản chưa đủ về số lượng,yếu về chuyên môn,thiếu cán bộ chuyên trách về MT làng nghề và không được đào tạo một cách bài bản.Theo thống kê của Tổng cục MT có tới 95% cán bộ QLMT từ cấp huyện trở xuống đều không có chuyên môn về MT, ở cấp xã, đa số là những cán bộ địa chính kiêm nghiệm, tại cấp thôn bản công tác BVMT giao cho trưởng thôn,họ lại không được thường xuyên tập huấn để nâng cao trình độ nghiệp vụ;

- Đầu tư tài chính cho BVMT làng nghề chưa tương xứng: Theo báo cáo của Tổng cục MT thì từ 2002 đến nay Nhà nước đã đầu tư 550 tỷ đồng vào lĩnh vực làng nghề,nhưng chủ yếu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các làng nghề,cụm cơ sở ngành nghề nông thôn ,kinh phí giành cho các công trình xử lý ô nhiễm,hoạt động BVMT lại rất ít.Do phí BVMT đối với các chất thải làng nghề chưa áp dụng được đối với các làng nghề và cũng chưa có các quy định bắt buộc.Việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn còn rất hạn chế,mới chỉ áp dụng ở một số cơ sở sản xuất gốm sứ với việc sử dụng lò nung bằng khí gas thay lò nung bằng than và một số cơ sở chế biến nông sản kết hợp với chăn nuôi xây hầm Biogas.

- Chưa huy động được đầy đủ các nguồn lực xã hội trong BVMT làng nghề:Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình ra quyết định,hoạch định chính sách và các hoạt động QLMT làng nghề còn nhiều hạn chế mà chủ yếu mới chỉ bày tỏ sự phản kháng do ô nhiễm MT hoặc vị trí đặt bãi thải.Tính cộng đồng và trình độ dân trí làng nghề ảnh hưởng rất nhiều đến BVMT,ở những nơi tính cộng đồng cao thì việc phối hợp và liên kết giữa các hộ sản xuất cũng thuận lợi hơn và ngược lại,những nơi có tính cộng đồng thấp thì việc quản lý sẽ khó khăn nhiều.

- Chức năng thanh tra,kiểm tra việc tuân thủ  các quy định của pháp luật nói chung và pháp luạt về BVMT nói riêng đối với các đối tượng sản xuất trong làng nghề cũng được giao cho nhiều ngành,nhưng việc triển khai thực hiện lại rất hạn chế.Nguyên nhân nguồn nhân lực và kinh phí được phân bổ cho công tác thanh kiểm tra còn hạn hẹp,nên công tác này trước mắt  tập trung chủ yếu vào các khu công nghiệp,các cơ sở công nghiệp lớn,các cơ sở gây ô nhiễm MT lưu vực sông,các cơ sở khai thác khoáng sản và các cơ sở xử lý chất thải,chất thải nguy hại.

-Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích mạnh mẽ công tác xã hội hóa (XHH )hoạt động BVMT,trong đó có bảo vệ MT làng nghề.Tuy nhiên,cơ chế,chính sách ưu đãi( trong đó có thủ tục hành chính) thu hút sự tham gia còn chưa thật sự cụ thể,hấp dẫn và rõ ràng nên chưa có tổ chức,cá nhân nào “ mạnh dạn” đầu tư cho làng nghề.

6. Kiến nghị các giải pháp quy hoạch làng nghề/cụm làng nghề đảm bảo phát triển bền vững

6.1. Về quy hoạch và quản lý

- Để quản lý có hiệu quả và từng bước quy hoạch thành các cụm công nghiệp làng nghề, trước hết phải có số liệu thống kê  đầy đủ và chính xác  số lượng,loại hình của các làng nghề,làng nghề truyền thống và làng có nghề cũng như mật độ và phân bố trên quy mô toàn quốc. Trong những năm gần đây,số lượng làng nghề biến động mạnh nên việc thống kê chưa đầy đủ và toàn diện.Ví dụ,số liệu của Bộ NN&PTNT phối hợp với tổ chức JICA Nhật Bản điều tra năm 2004 có 2017 làng nghề; Đề tài KC08-05 (2005) có 1450 làng nghề; Tổng cục MT (2011) tổng hợp báo cáo từ các Sở TN&MT thì tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.355 làng,trong đó có 1.262 làng nghề đã được công nhận và 2.093 làng có nghề chưa được công nhận.Nguyên nhân là tuy đã có tiêu chí phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống nhưng còn chưa thống nhất về cách hiểu và cách thức phân loại giữa các địa phương,thời điểm thống kê và phương pháp thống kê …

-   Quy hoạch không gian làng nghề gắn với BVMT: Việc quy hoạch các khu/cụm công nghiệp ở các làng nghề để di dời những cơ sở gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu vực dân cư,đồng thời thiết kế và xây dựng hệ thống nước thải và thu gom CTR. Có thể thực hiện theo 2 quy hoạch:

+ Quy hoạch tập trung theo cụm công nghiệp nhỏ,xa khu dân cư với quy hoạch đồng bộ mặt bằng sản xuất,cơ sở hạ tầng như đường giao thông,hệ thống cung cấp điện nước,hệ thống thông tin,hệ thống thu gom và xử lý nước thải,thu gom CTR để xử lý tập trung+ Quy hoạch phân tán: Quy hoạch sản xuất ngay tại hộ gia đình những ngành nghề không gây ô nhiễm MT như: dệt thổ cẩm; dệt lụa tơ tằm…,kết hợp điều kiện sản xuất và cải thiện điều kiện VSMT mà không cần phải di dời,hạn chế tối đa việc cơi nới,mở rộng đường,xây nhà cao tầng,lưu giữ khung cảnh sản xuất,tính cổ truyền nhân văn của làng để có thể kết hợp với du lịch

- Đối với làng nghề, PTBV là cái đích phải hướng tới và cũng được khẳng định trong Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ.Các làng nghề,cụm làng nghề  cần được định hướng PTBV,đóng góp xứng đáng vào phát triển kinh tế,tạo công ăn việc làm,góp phần xóa đói giảm nghèo(XĐGN),đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ và  cải thiện môi trường nông thôn. Trong phát triển sản xuất kinh doanh ở các làng nghề thì BVMT phải được kết hợp hài hòa và hướng tới cải thiện MT. Có nghĩa là không hy sinh lợi ích MT cho lợi ích kinh tế trước mắt và các lợi ích từ sản xuất kinh doanh cần được chia sẻ cho hoạt động BVMT vì sự phát triển bền vững chung của làng nghề.Để làm được điều này cần:

- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chính sách,văn bản quy phạm pháp luật về BVMT làng nghề Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật riêng cho BVMT làng nghề,trong đó cần quy định rõ trách nhiệm của địa phương,các ngành,lĩnh vực tại làng nghề. Hoàn thiện hệ thống các văn bản về BVMT làng nghề như các quy định cụ thể về BVMT,các quy định cụ thể về ĐTM và cam kết BVMT đối với làng nghề,thu phí BVMT đối với chất thải,lồng ghép BVMT làng nghề đối với quy hạch,kế hoạch phát triển của địa phương,

-         .Ban hành các văn bản dưới luật,hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Luật

BVMT. Cụ thể:

+ Xây dựng và đề xuất cơ chế,chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn,chú trọng công tác BVMT ;

+ Xây dựng các cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất của làng nghề vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất,thay đổi công nghệ theo hướng thân thiện với MT,áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn(SXSH),các công nghệ đơn giản để xử lý nước thải,khí thải và CTR;

+ Xây dựng cụ thể hơn chính sách hỗ trợ tài chính để giúp các khu/cụm công nghiệp làng nghề xây dựng các hệ thống xử lý chất thải,xây dựng các bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh;

+ Nghiên cứu các công nghệ thân thiện với MT,các công nghệ xử lý chất thải phù hợp với làng nghề và tuyên truyền,phổ biến  cho các cơ sở làng nghề, đồng thời hỗ trợ và tìm kiếm đầu ra cho các sản phẩm làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu như các mặt hàng gốm sứ,đồ gỗ, mây tre đan,vải lụa tơ tằm , nhắm tái đầu tư sản xuất và đầu tư vào BVMT

-         Xây dựng quy chuẩn quốc gia về khí thải,nước thải phù hợp với các cơ sở sản xuất ở các làng nghề ( theo hệ số),đồng thời khuyến khich việc xây dựng các quy định, hương ước về VSMT tại các làng nghề

-         Xây dựng tiêu chí làng nghề xanh và các chính sách liên quan nhằm xếp loại các làng nghề theo hướng BVMT và PTBV.Sản phẩm của các làng nghề đạt tiêu chí xanh sẽ được gắn “nhãn xanh”,đồng thời xây dựng chính sách ưu tiên trong cấp vốn,lưu thông hàng hóa đối với những làng nghề đạt tiêu chí xanh

-         Hoàn thiện bộ máy QLMT cấp xã và lấy cấp xã làm nòng cốt trong hệ thống QLMT các làng nghề. Tăng cường nhân lực cho công tác BVMT các làng nghề và có kế hoạch hỗ trợ tài chính đối với cán bộ QLMT cấp thôn,trưởng thôn để động viên họ hoạt động hiệu quả hơn.

-         Khuyến khích việc xã hội hóa công tác BVMT làng nghề:Cần tăng cường giáo dục,tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng và phổ biến lồng ghép nội dung BVMT trong Hương ước của làng xã.Khuyến khích và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong BVMT làng nghề: BVMT phải do chính các chủ cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư trong làng nghề tham gia.Việc huy động gồm cả huy động bắt buộc,người gây ô nhiễm phải đóng góp hoặc chi trả kinh phí cho việc khắc phục ô nhiễm; huy động tự nguyện là những người hưởng lợi từ MT đóng góp vào công tác BVMT như đóng góp sức lao động của các hộ gia đình,các cơ quan,trường học vào các hoạt động vệ sinh ngõ,xóm,khai thông cống rãnh. Công tác xã hội hóa còn góp phần đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho BVMT làng nghề, cụm làng nghề

6.2. Một số giải pháp hạn chế và nghiêm cấm

Phát triển làng nghề phải đảm bảo bền vững và hài hòa các mặt kinh tế,xã hội và BVMT.Với cách tiếp cận này,bên cạnh một số loại hình làng nghề không gây ô nhiễm MT sẽ phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô sản xuất,một số làng nghề gây ô nhiễm nặng buộc phải di chuyển vào các cụm làng nghề tập trung,không khuyến khích phát triển và một số hoạt động công nghệ cần được nghiêm cấm triệt để.Cụ thể:

-         Hạn chế phát triển mới và mở rộng các cơ sở sản xuất tái chế chất thải như:kim loại,nhựa,giấy,cao su,dệt nhuộm và thuộc da thủ công.

-         Nghiêm cấm sử dụng trong làng nghề những phương pháp sản xuất thủ công và thiết bị gây ô nhiễm MT trầm trọng;

-         Nghiêm cấm trong làng nghề các hoạt động sử dụng quặng có tính phóng xạ,tái chế chất thải nguy hại.

 GS.TS. Lê Văn Khoa 

 Viện Tư vấn phát triển (CODE) 

( Báo cáo tại Hội thảo do Văn phòng Quốc hội tổ chức tại Ninh Thuận, tháng 9/2011)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008: Báo cáo môi trường Quốc gia - Môi trường làng nghề.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010: Báo cáo môi trường quốc gia 2010 - Tổng quan môi trường Việt Nam.

3. Đặng Kim Chi, 2005: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam (Đề tài: KC.08.09).

4. Lê Văn Khoa, 2005: Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh thái đặc trưng. Dự báo xu thế diễn biến. Đề xuất các chính sách và các giải pháp kiểm soát thích hợp (Đề tài: KC.08.06).

Bookmark and Share
Các Tin Khác:
Tin nổi bật
Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp Nước sạch và vệ sinh môi trường: Hiện trạng và giải pháp
Hội thảo: Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng - EITI và khả năng tham gia của Việt Nam Hội thảo: Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng - EITI và khả năng tham gia của Việt Nam
THÔNG BÁO SỐ 1 THÔNG BÁO SỐ 1
Hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam” Hội thảo “Tài nguyên khoáng sản và phát triển bền vững ở Việt Nam”
Thực hiện Sáng kiến EITI để tránh “lời nguyên tài nguyên” Thực hiện Sáng kiến EITI để tránh “lời nguyên tài nguyên”
Đối Tác
Thống kê
Khách online: 1
Tổng truy cập: 95171

Trang chủ Điều khoản Cam kết Liên hệ Lên đầu trang  

Viện Tư vấn phát triển - CODE
Địa chỉ: Tầng 5, nhà số 5, ngõ 535 Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 04 3771 1173
Fax: 04 3771 5691
Email: code@codeinter.org

www.codeinter.org